
Trao đổi – Nghiên cứu
Đời sống Tăng đoàn ở Nalanda Thế kỉ 7: Thiêu xác thân là không hợp lẽ - Pháp sư Nghĩa Tịnh
Hành động thiêu thân nói lên sự quyết tâm cắt đứt các mối dây liên lụy từ thân xác/bản ngã qua ngọn lửa trí tuệ (~ Bát nhã) hoàn toàn khác biệt với các sự tự sát hay tự thiêu vì đau khổ, bế tắc trong cuộc sống...
-
Mô tả khảo dị so sánh về 3 bản Khoa cúng tổ ở chùa Bà Đá, Hà Nội
Việc khảo dị ba văn bản này không chỉ giúp tìm hiểu về lịch sử chùa, hành trạng chư tổ, sự tích của chùa, mà còn đóng góp tư liệu quan trọng cho lịch sử Phật giáo Thăng Long - Hà Nội.
-
Tiếp biến giáo lý Phật giáo trong đời sống văn hóa dân gian Việt Nam
Khi Phật giáo gặp văn hóa Việt Nam, những giáo lý nào được tiếp nhận, chúng được chuyển hóa ra sao, và sau quá trình ấy chúng đã trở thành gì trong đời sống cộng đồng?
-
Phật giáo trước những thách thức phi truyền thống (Phần 3 - Hết)
GHPGVN cần từng bước thiết lập chu trình quản trị thống nhất gồm: Nhận diện nguy cơ - phân loại rủi ro - phòng ngừa - giám sát - cảnh báo - ứng phó - khắc phục - đánh giá sau sự việc.
-
"Niết bàn" và "Thiên nhân" hợp nhất
Đằng sau hai lý thuyết chứng Niết bàn và Thiên nhân hợp nhất đều ẩn chứa một mâu thuẫn nhân sinh sâu sắc: mâu thuẫn giữa sinh mệnh hữu hạn và vũ trụ vô hạn.
-
Có hay không dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi tại Việt Nam? - Năm vấn đề cần được xác định
Chưa đủ chứng cứ để xác nhận dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi như một pháp hệ liên tục từ thế kỷ VI; đồng thời cũng chưa đủ chứng cứ để phủ định sự tồn tại lịch sử của truyền thống này tại Việt Nam.
-
Từ chính đạo đến Du-già hành: Đối chiếu Kinh Phù-di và Kinh Giải thâm mật về con đường tu chứng
“Từ Chính đạo đến Du-già hành” không mô tả một đường thẳng lịch sử, cũng không hàm ý kinh Giải Thâm Mật là một “bước cao hơn” của Kinh Phù-di; đó chỉ sự thay đổi trong cách đặt và phân tích vấn đề tu chứng.
-
Phật giáo trước những thách thức phi truyền thống (Phần 2/3)
AI có thể làm tăng tốc độ tìm kiếm; thuật toán có thể mở rộng phạm vi tiếp cận; nền tảng có thể tạo ra những cộng đồng học tập mới. Nhưng không cơ chế nào trong số đó tự thân tạo ra tính chính danh của một lời giảng.
-
Khảo phần Phổ Thuyết Tứ Sơn trong Khóa Hư Lục Giải của Thiền sư Tuệ Tĩnh
Phổ thuyết Tứ sơn là phần có tính văn chương hay và uyên bác bậc nhất trong Khóa hư lục, phần giải nghĩa Nôm cũng chuẩn xác với văn từ tuy nôm na mà vẫn mượt mà nhuần nhị thể hiện được cái hay đẹp của tiếng Việt cổ.
-
Phật giáo trước những thách thức phi truyền thống (Phần 1/3)
Nếu người tiếp nhận lâu ngày không còn phân biệt được đâu là lời Phật trong kinh điển, đâu là cách diễn giải của một vị Tăng, đâu là quan niệm dân gian và đâu là nội dung do AI tạo ra, hệ quả sâu xa là sự xói mòn chuẩn mực xác định tri thức Phật học.
-
Ứng dụng tư tưởng hòa hợp - củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Khối đại đoàn kết dân tộc hôm nay không chỉ được bảo đảm bằng chính sách, pháp luật của Nhà nước, mà còn được nuôi dưỡng, củng cố bởi hệ giá trị tâm linh và chuẩn mực đạo đức tiến bộ của Phật giáo.
-
Có, hay không, dòng thiền Tì-ni-đa-lưu-chi tại Việt Nam?
Những vị này, dĩ nhiên là chư sư Việt Nam; tuy về học lý và pháp tu của họ còn cần phải được nghiêm túc tham cứu thêm. Hiện tại, tôn xưng họ thuộc dòng tu Pháp Vân là vinh danh chính thực nhất.
-
Nguyên lý bất nhị và mô hình Thiền trong Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông
Khóa Hư Lục giữ vai trò bản lề, mở đường cho bước chuyển từ Bất nhị như nguyên lý triết học sang Bất nhị như một nguyên lý hành động chính trị, để rồi được Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử
-
Khảo sát hai văn bản cùng tên “Phạm Võng’’ - trong 2 truyền thống Phật giáo
Điểm gặp gỡ sâu xa giữa hai “Phạm Võng” không nằm ở việc xóa nhòa sự khác biệt giữa Phật giáo Pāli và Đại thừa, mà nằm ở khả năng nhận ra rằng kiến chấp, tâm niệm, lời nói và hành vi đều liên hệ với tiến trình giải thoát và tu tập.
-
Văn hóa Bố thí và hiện tượng “giật cô hồn”: Vấn đề xã hội, pháp lý và nhãn quan Theravāda
Văn minh và đúng chính pháp không chỉ bảo vệ an ninh trật tự, mà còn là cách thiết thực nhất để đưa tháng 7 Âm lịch trở về đúng với bản ngã thánh thiện của: Mùa của sự xá tội, lòng từ bi vô hạn và đạo hiếu vẹn toàn.
-
Khai thác nguồn lực Phật giáo Việt Nam dưới góc nhìn triết lý nhập thế
Phát huy hiệu quả nguồn lực này chính là cầu nối gắn kết truyền thống với hiện đại, góp phần xây dựng một xã hội hài hòa, nhân ái và giàu bản sắc trong bối cảnh hội nhập.
-
Tính Không – Duyên khởi – Trung đạo: Nền tảng triết học và phương thức nhập thế của PGVN đương đại
Thích Quảng Hợp đưa ra luận điểm lấy Tính Không – Duyên khởi – Trung đạo làm nền tảng triết học, lấy Thiền và chính niệm làm phương thức tu tập – nhận thức, lấy nhập thế làm phương thức hành động và hướng tới những giá trị nhân sinh – xã hội của Phật giáo Việt Nam đương đại.
-
Thiền sư Như Hiện qua bia tháp Tịnh Quang chùa Đông Khê, Hải Phòng
Bia gồm một mặt gắn trực tiếp vào tường tháp, toàn văn khoảng 1.000 chữ, trán bia trang trí lưỡng long chầu nhật, có hàng chữ đầu tiên bị xây tường đè lên. Nội dung ghi lại tiểu sử, hành trạng, công trạng của thiền sư Như Hiện. Có bài minh dài.
-
Nhóm truyện ngắn trên báo điện tử Hải Phòng nhìn từ phê bình Phật học
Tính giao thoa và thích nghi cao trong văn hóa biển tạo nên sự tương quan chủ yếu với ba nguyên lý khế cơ, khế thời và khế xứ, phản ánh đặc trưng nổi bật nhất của văn học Hải Phòng khi nhìn từ phê bình Phật học.
-
Kỷ nguyên mới của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Nội hàm và Định hướng phát triển
Trong bối cảnh kỷ nguyên mới, việc nâng cao hiệu quả hoạt động cần được hiểu là nâng cao chất lượng của các hoạt động hoằng pháp, giáo dục, văn hóa, từ thiện xã hội, đối ngoại và quản trị Giáo hội.
-
Bảo tồn Di sản Phật giáo - nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình
Vấn đề còn lại là cách chúng ta hành động. Không đóng cửa di sản để bảo tồn. Không mở cửa di sản để khai thác bằng mọi giá. Mà làm cho mỗi giá trị được bảo tồn có khả năng sinh ra tri thức, sáng tạo, sinh kế, bản sắc và sức mạnh mềm




